Với xu thế sống nhanh ở xã hội hiện đại, suy nghĩ, tư tưởng của các cặp đôi nam, nữ trong mối quan hệ hôn nhân cũng thoáng hơn, dẫn đến việc “sớm nở, chóng tàn”. Hệ lụy của việc này là các trường hợp có con riêng, con ngoài giá thú. Vấn đề pháp lý này thật sự phức tạp, đặc biệt là trong việc hưởng thừa kế từ cha, mẹ. Pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định cụ thể về việc con riêng, con ngoài giá thú có được thừa hưởng thừa kế từ cha,mẹ hay không? Tại kì họp bất thường của Quốc Hội mới đây cũng đã thông qua Luật Đất đai 2024, theo đó, sẽ có sự đổi mới được áp dụng trong việc con không có quốc tịch Việt Nam nói riêng và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài nói chung được thừa hưởng thừa kế đất đai.
KHÁI NIỆM THỪA KẾ
Thừa kế là việc chuyển nhượng tài sản cũng như quyền và nghĩa vụ của người đã mất cho những người còn sống, người thừa kế. Đối với khái niệm này, có hai nghĩa khách quan và chủ quan. Nghĩa khách quan, thừa kế là một phạm trù pháp lý bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người sống theo di chúc hoặc theo trình tự do pháp luật quy định. Về nghĩa chủ quan, là các quyền dân sự cụ thể của các chủ thể có liên quan đến quan hệ thừa kế.
NGƯỜI THỪA KẾ
Theo Điều 613 Bộ luật dân sự 2015 thì người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Theo Bộ luật dân sự thì không nói rõ ràng người thừa kế là ai chỉ quy định đó là một cá nhân hoặc không là cá nhân. Như vậy, con riêng của vợ hoặc chồng cũng là người được hưởng thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.
HÌNH THỨC THỪA KẾ
Theo Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về hình thức thừa kế, hiện tại có hai loại hình thức thừa kế đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
a. Thừa kế theo di chúc
Là chuyển di di sản của người đã chết cho người thừa kế theo di chúc người chết để lại. Người để lại di chúc là những người đã thành niên và đáp ứng được các điều kiện ở Điều 630 Bộ luật Dân sự. Trường hợp người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì vẫn được lập di chúc nhưng phải có cha/mẹ/người giám hộ đồng ý.
Di chúc có thể là bằng văn bản, bằng miệng. Đối với di chúc bằng miệng thì sau 03 tháng kể từ thời điểm người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc mặc nhiên bị hủy bỏ.
b. Thừa kế theo pháp luật
Các trường hợp thì được xem là thừa kế theo pháp luật là người chết không có di chúc để lại, di chúc không hợp pháp, người được thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Việc chia thừa kế theo pháp luật được thực hiện theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Hàng thừa kế trong Bộ luật Dân sự 2015 được chia làm 03 hàng thừa kế như sau:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Vấn đề được đặt ra đó là con riêng, con ngoài giá thú của vợ/chồng có được hưởng thừa kế theo pháp luật không và họ thuộc hàng thừa kế thứ mấy theo pháp luật?
Theo Điều 653 và 654 Bộ luật dân sự 2015 có quy định thì con riêng của vợ/chồng vẫn được hưởng thừa kế với điều kiện là họ phải có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con. Việc chứng minh rằng họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc được nhận thừa kế hay không vì khi xảy ra tranh chấp với những người có quyền thừa kế thì con riêng phải xuất trình ra được bằng chứng chứng minh cho việc mình thực sự nuôi dưỡng, chăm sóc cha dượng, mẹ kế. Ngược lại, nếu không chứng minh được thì con riêng sẽ không được hưởng di sản mà cha dượng, mẹ kế để lại. Tuy nhiên, trên thực tế, không có văn bản nào quy định về vấn đề này nên việc áp dụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc..
Đối với con ngoài giá thú thì khác theo quy định về hàng thừa kế không có phân biệt con ngoài giá thú với con sinh trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, con ngoài giá thú vẫn có thể được nhận thừa kế theo pháp luật đối với di sản của đã người chết vì bản chất họ là con đẻ của người đã chết.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 về hàng thừa kế, con riêng có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất tuy nhiên nếu con riêng không phải là con ruột hoặc con nuôi của người mất thì không thuộc hàng thừa kế nào theo pháp luật. Ngoài ra, con riêng còn có nghĩa vụ cung cấp các bằng chứng chứng minh việc có mối quan hệ cha con, mẹ con với người để lại di sản thừa kế, ví dụ như: Giấy khai sinh, Quyết định nhận con nuôi hoặc các giấy tờ pháp lý tương đương,...
THỪA KẾ ĐẤT ĐAI ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI GỐC VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI
Căn cứ theo Luật quốc tịch Việt Nam 2008 có nêu định nghĩa cho sự khác biệt của hai chủ thể này đó là đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Còn đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Theo luật đất đai 2013 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được xem là người sử dụng đất. Vì thế chủ thể này là chủ thể có thể được nhận thừa kế đất đai ở Việt Nam theo quy định tại Điều 186 Luật đất đai 2013. Tuy nhiên để có quyền sở hữu nhà ở phải đáp ứng điều kiện của Luật nhà ở 2014 đó là phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam nếu không theo quy định tại Điều 186 Luật đất đai thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tuy nhiên được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định như sau:
“a) Trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế được đứng tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
b) Trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất thì người được tặng cho phải là đối tượng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 179 của Luật này và phù hợp với quy định của pháp luật về nhà ở, trong đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên tặng cho trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng cho;
c) Trong trường hợp chưa chuyển nhượng hoặc chưa tặng cho quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào Sổ địa chính.”
2. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài
Luật đất đai hiện hành không quy định về người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được hưởng thừa kế đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo nội dung của Luật đất đai 2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 đã có sự đổi mới, đó là bổ sung thêm quy định người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Với quy định mới này, thì những người không có quốc tịch Việt Nam có gốc là người Việt Nam như có ông bà, cha mẹ là người Việt Nam thì vẫn được xem là người sử dụng đất và được nhận thừa kế. Tất nhiên, họ phải có những chứng cứ, giấy tờ chứng minh gốc Việt của mình.
Từ đó, căn cứ theo quy định tại Điều 27 Luật đất đai 2024, sẽ cho phép những người Việt Kiều được quyền nhận thừa kế đối với đất đai. Tại điều 28 Luật này quy định thêm người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền nhập cảnh vào Việt Nam và nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở và các loại đất khác trong cùng thửa đất có nhà ở theo quy định của pháp luật về dân sự. Tuy nhiên, chỉ những người đáp ứng điều kiện tại Điều 44 Luật đất đai 2024 thì mới được nhận thừa kế sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam; có quyền sử dụng đất ở do nhận chuyển quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở. Nếu không thì chỉ được hưởng thừa kế là phần giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở và không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
Như vậy, nếu con riêng, con ngoài giá thú của vợ/chồng nếu như không có quốc tịch Việt Nam nhưng có gốc gác cha mẹ là người Việt Nam vẫn được nhận thừa kế đối với đất đai do cha/mẹ để lại ở Việt Nam.
Những quy định mới về thừa kế đất đai này tạo điều kiện thuận lợi cho Việt kiều đầu tư và mua nhà ở Việt Nam, có thể dẫn đến việc một lượng lớn kiều hối chảy vào bất động sản ở Việt Nam trong bối cảnh khó khăn hiện tại. Tuy nhiên cũng có các khó khăn như chứng minh gốc gác, thủ tục, giấy tờ chứng minh bản thân đối với Việt kiều.
CƠ SỞ PHÁP LÝ:
- Luật đất đai 2013;
- Luật đất đai 2024;
- Luật nhà ở 2014;
- Luật Quốc tịch Việt Nam 2008;
- Bộ luật dân sự 2015;
Trên đây là một bài viết chi tiết về các quy định liên quan về việc THỪA KẾ ĐỐI VỚI CON RIÊNG, CON NGOÀI GIÁ THÚ CỦA VỢ/CHỒNG.
Chúng tôi hy vọng rằng người đọc sẽ nắm rõ về các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam để đảm bảo quyền, lợi ích của mình trong các mối quan hệ về thừa kế, đặc biệt trong trường hợp Con riêng, con ngoài giá thú.
Nếu có thắc mắc hoặc nhu cầu cần tư vấn, hỗ trợ về các thủ tục liên quan đến thừa kế, khai nhận di sản, Quý khách hàng liên hệ đến Hãng Luật Khánh Dương.
Chúng tôi rất mong được hỗ trợ quý khách.
Trân trọng.